Thursday, May 21, 2015

LUẬN VỀ MỘT CÂU ĐỐI ở Tịnh An Viên


Cuối tháng Ba vừa rồi, nhóm bạn chúng tôi hẹn nhau về Tịnh An Viên ở Lái Thiêu, Bình Dương, chủ nhân ngôi nhà - Nguyễn Minh Sơn - là cậu em của bạn Minh An Nguyễn nhà mình..

Nếu gõ vào ông Google chữ TỊNH AN VIÊN, thì ta sẽ thấy đã có bạn bè và rất nhiều báo chí, tạp chí viết về Tinh An Viên :

Đó là một khu vườn rộng 2.500m2, tọa lạc ở ấp Tây (xã Vĩnh Phú, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương), cách trung tâm TP Hồ Chí Minh chừng 17km. Trong khu vườn xứ Thủ Dầu Một ấy có ba ngôi nhà gỗ, do các nghệ nhân của Cố đô tháo dỡ từ ba ngôi nhà rường xứ Huế, rồi sửa chữa, tu bổ và đưa vào Bình Dương lắp ráp, phục dựng suốt ba năm ròng (2006 - 2008).

Ba ngôi nhà gỗ, gồm một ngôi ‘năm gian hai chái’ và hai ngôi ‘ba gian hai chái’, được kết nối với nhau bằng hệ thống trường lang, tạo thành chữ Nhân (人), tọa lạc giữa một khu vườn yên tĩnh, đúng như tên gọi mà chủ nhân đã lựa chọn cho “chốn thư giãn tâm hồn” của mình: Tịnh An Viên (靜 安 園).

Mục đích chuyến họp mặt hôm ấy chỉ là để vui đùa với chủ đề: ÁO DÀI VÀ TỊNH AN VIÊN.. chủ đề đó đã được xuất hiện rải rác trên facebook rồi. Hôm ấy chúng tôi cũng đã có một ngày thật an tịnh, an lạc trong khu nhà cổ ấy.. Ra về rồi chúng tôi cũng còn cùng nhau vui đùa trong facebook qua 4 cái note vui nhộn.. lấy từ cốt truyện do nàng Chụt Vũ Quỳnh Trang khởi đầu, và sẽ còn rất nhiều bài vui để viết về Tịnh An Viên hôm ấy nữa.

Tuy nhiên, hôm ấy là lần đầu tiên tôi ghé Tinh An Viên với nhóm bạn, lo vui đùa là chủ yếu, cũng chưa đi hết các khu nhà, cho nên ra về vẫn còn nhiều tiếc nuối.. hẹn dịp sau vậy.

Hôm nay, tôi mới xem lại cái album hình từ trong cellphone của tôi, hình vui thì nhiều, còn hình những cổ vật trong ngôi nhà thì tôi vẫn chưa có thời gian đi ngắm và hỏi bạn Minh An mình cho kỹ nữa.. cho nên hôm ấy tôi chưa chụp được gì cả! đúng là chẳng kể tuổi tác, ai cũng ham vui hơn ham.. tìm tòi. :-))

Nhưng cuối cùng tôi cũng dừng ở tấm hình này: 



Hihi..  tấm hình này nhìn màu sắc thấy cũng xinh xinh, hôm ấy con trai tôi muốn tôi ngồi lên cái đôn nhưng tôi lại thích đứng.. hôm nay nhìn lại thì thấy tôi đứng như vậy là đúng rồi..

Và từ hình ảnh này tôi muốn nói về một đề tài khác ở trong ngôi nhà cổ này,

Bức tranh ở đây là một cái đôn gỗ cổ, hai bên là cặp ngà voi, hai bên nữa là hai hàng câu đối được đặt ở chính giữa ngôi nhà chính.. Tôi vẫn chưa biết xuất xứ nguồn gốc của những cổ vật này, nhưng vì tôi chỉ muốn hiểu ý nghĩa của hai câu đối hai bên nên tôi phóng to chữ lên và phải vật lộn mãi mới viết ra được hai hàng chữ này..

富壽 康寧 總是 仁慈 成 事業
貴財 利樂 皆由 忠孝 永 基園

Phú thọ khang ninh - tổng thị - nhân từ thành sự nghiệp
Quý tài lợi lạc - giai do - trung hiếu vĩnh cơ viên 




Để giúp cho bạn tôi cùng hiểu rõ hai câu đối trên tôi xin đưa nghĩa ngữ của từng chữ theo tự điển Thiều Chửu như sau

1. CÂU ĐỐI THỨ NHẤT:

富壽 康寧 總是 仁慈 成 事業
Phú thọ khang ninh - tổng thị - nhân từ thành sự nghiệp


 phú
  1. Giàu.
  2. Phàm cái gì thừa thãi đều gọi là phú. Như niên phú 年富  tuổi khỏe, văn chương hoành phú 文章宏富  văn chương rộng rãi dồi dào.

 thọ
  1. Lâu dài. Có tuổi gọi là thọ. Trăm tuổi là thượng thọ 上壽. Tám mươi gọi là trung thọ 中壽.
  2. Ngày sinh nhật cũng gọi là thọ.
  3. Chúc, đời xưa đem vàng lụa tặng cho người tôn kính hay lấy rượu mà chuốc cũng gọi là thọ.

 khang, khương
  1. Yên. Như khang kiện 康健  yên mạnh.
  2. Ngã năm, chỗ năm lối đều qua gọi là khang 康, sáu lối đều qua gọi là trang 莊, đường xá trong phố rộng rãi sạch sẽ gọi là khang trang 康莊.

 ninh, trữ
  1. Yên ổn.
  2. Thăm hỏi. Con gái ở nhà chồng về thăm cha mẹ gọi là quy ninh 歸寧.
  3. Thà, lời thuận theo. Như ninh khả 寧可  thà khá, ninh sử 寧使  thà khiến.
  4. Xét ra chữ ninh viết 寧 và 甯, hai chữ ý nghĩa hơi giống nhau mà có phần hơi khác nhau. Như an ninh 寧, đinh ninh 寧  đều dùng chữ ninh 寧, còn tên đất hay họ thì dùng chữ ninh 甯.

 tổng
  1. Góp, họp, tóm. Như tổng luận 總論  bàn tóm lại.
  2. Bó, tết tóc. Như tổng giác 總角  tết trái đào, lúc còn bé kết tóc làm trái đào, nên lúc bé gọi là tổng giác.
  3. Đứng đầu, cầm đầu. Như tổng thống 總統  chức tổng thống cầm đầu cả việc nước.
  4. Tổng, họp mấy làng lại làm một tổng.
  5. Bó rạ, bó lúa. Thượng thư 尚書  : Bách lí phú nạp tổng 百里賦納總  Thuế từ một trăm dặm, nộp bó lúa.
  6. Hết đều..

 thị
  1. Phải, điều gì ai cũng công nhận là phải gọi là thị. Cái phương châm của chánh trị gọi là quốc thị 國是.
  2. Ấy thế, lời nói chỉ định. Như như thị 如是  như thế.

 nhân
  1. Nhân. Nhân là cái đạo lý làm người, phải thế mới gọi là người.
  2. Yêu người không lợi riêng mình gọi là nhân.
  3. Cái nhân ở trong hạt quả. Như đào nhân 桃仁  nhân hạt đào.
  4. Tê liệt. Như chân tay tê dại không cử động được gọi là bất nhân 不仁.

 từ
  1. Lành, yêu rất mực. Cha mẹ yêu con gọi là từ.
  2. Người trên yêu kẻ dưới cũng gọi là từ. Chu cấp cứu giúp cho kẻ túng thiếu khốn cùng gọi là từ thiện sự nghiệp 慈善事業.
  3. Mẹ. Cha gọi là nghiêm 嚴, mẹ gọi là từ 慈. Như gia từ 家慈  mẹ tôi, từ mẫu 慈母  mẹ hiền, v.v.

 thành
  1. Nên, thành tựu, phàm làm công việc gì đến lúc xong đều gọi là thành. Như làm nhà xong gọi là lạc thành 落成, làm quan về hưu gọi là hoạn thành 宦成, v.v.
  2. Thành lập. Như đại khí vãn thành 大器晚成  đài lớn muộn thành. Tuổi cao đức trọng lại duyệt lịch nhiều gọi là lão thành 老成.
  3. Nên, sự gì đã định rồi thì gọi là thành. Như thủ thành 守成  cứ giữ lấy cơ nghiệp trước.
  4. Cái gì nghĩ tới trước mà đã ấn định không đổi dời được gọi là thành. Như thành tâm 成心, thành kiến 成見, v.v.
  5. Trọn, hết. Hết một khúc nhạc gọi là nhất thành 一成.
  6. Hòa bình. Cầu hòa gọi là cầu thành 求成  hay hành thành 行成.
  7. Thửa vuông mười dặm gọi là thành.
  8. Phần số đã thành. Như một cái gì chia ra làm mười phần thì phần số bảy gọi là thất thành 七成, phần số tám gọi là bát thành 八成, v.v.

 sự
  1. Việc.Trần Nhân Tông 陳仁宗  : Khách lai bất vấn nhân gian sự, Cộng ỷ lan can khán thúy vi 客來不問人間事, 共倚欄杆看翠微  (Xuân cảnh 春景) Khách đến không hỏi việc đời người, Cùng tựa lan can ngắm khí núi xanh.
  2. Làm việc. Như vô sở sự sự 無所事事  không làm việc gì.
  3. Thờ. Như tử sự phụ mẫu 子事父母  con thờ cha mẹ.

 nghiệp
[Pinyin: yè, zhū] [Giản thể: 业]
  1. Nghiệp. Ngày xưa cắt miếng gỗ ra từng khớp để ghi các việc hàng ngày, xong một việc bỏ một khớp, xong cả thì bỏ cả đi, gọi là tu nghiệp 修業. Nay đi học ở tràng gọi là tu nghiệp, học hết lớp gọi là tất nghiệp 畢業  đều là nói nghĩa ấy cả, nói rộng ra thì phàm việc gì cũng đều gọi là nghiệp cả. Như học nghiệp 學業, chức nghiệp 職業, v.v.. Của cải ruộng nương cũng gọi là nghiệp. Như gia nghiệp 家業  nghiệp nhà, biệt nghiệp 別業  cơ nghiệp riêng, v.v.
  2. Làm việc, nghề nghiệp. Như nghiệp nho 業儒  làm nghề học, nghiệp nông 業農  làm ruộng, v.v.
  3. Sư đã già rồi. Như nghiệp dĩ như thử 業已如此  nghiệp đã như thế rồi.
  4. Sợ hãi. Như căng căng nghiệp nghiệp 兢兢業業  đau đáu sợ hãi.
  5. Cái nhân. Như nghiệp chướng 業障  nhân ác làm chướng ngại. Có ba nghiệp khẩu nghiệp 口業  nhân ác bởi miệng làm ra, thân nghiệp 身業  nhân ác bởi thân làm ra, ý nghiệp 意業  nhân ác bởi ý làm ra, ba món miệng, thân, ý gọi là tam nghiệp 三業. Túc nghiệp 宿業  ác nghiệp kiếp trước đã làm kiếp này phải chịu khổ gọi là túc nghiệp, v.v. Làm thiện cũng gọi là thiện nghiệp 善業.
  6. Công nghiệp. Như đế nghiệp 帝業  công nghiệp vua.




2. CÂU ĐỐI THỨ HAI:
貴財 利樂 皆由 忠孝 永 基園

Quý tài lợi lạc - giai do - trung hiếu vĩnh cơ viên

 quý
  1. Sang, quý hiển. Như công danh phú quý 功名富貴  có công nghiệp, có tiếng tăm, được giàu sang. Dòng họ cao sang gọi là quý tộc 貴族.
  2. Đắt. Như ngang quý 昂貴  giá đắt.
  3. Quý trọng. Như trân quý 珍貴  rất yêu mến.
  4. Muốn.

 tài
  1. Tiền của. Là một tiếng gọi tất cả các thứ như tiền nong, đồ đạc, nhà cửa, ruộng đất, hễ có giá trị đều gọi là tài sản 財產, các đồ đạc trong cửa hàng buôn đều gọi là sinh tài 生財. Như nhân vị tài tử, điểu vị thực vong 人為財死, 鳥為食亡  người chết vì tiền của, chim chết vì miếng ăn. Ca dao Việt Nam : Chim tham ăn sa vào vòng lưới, Cá tham mồi mắc phải lưỡi câu.

 lợi
  1. Sắc. Như lợi khí 利器  đồ sắc.
  2. Nhanh nhẩu. Như lợi khẩu 利口  nói lém.
  3. Lợi. Như ích quốc lợi dân 益國利民  ích cho nước lợi cho dân, lợi tha 利他  lợi cho kẻ khác.
  4. Công dụng của vật gì. Như thủy lợi 水利  lợi nước, địa lợi 地利  lợi đất.
  5. Tốt lợi. Như vô vãng bất lợi 無往不利  tới đâu cũng tốt.
  6. Tham, phàm cái gì thuộc sự ích riêng của một người đều gọi là lợi. Như nghĩa lợi giao chiến 義利交戰  nghĩa lợi vật lộn nhau. Cao Bá Quát 高伯适  : Cổ lai danh lợi nhân, Bôn tẩu lộ đồ trung 古來名利人, 奔走路塗中  (Sa hành đoản ca 沙行短歌) Xưa nay hạng người danh lợi, Vẫn tất tả ngoài đường sá.
  7. Lời. Như lợi thị tam bội 利市三倍  bán lãi gấp ba. Cho nên cho vay lấy tiền lãi gọi là lợi tức 利息.

 nhạc, lạc, nhạo
  1. Nhạc, ngũ âm bát thanh đều gọi là âm nhạc cả.
  2. Một âm là lạc. Vui, thích. Như Hiếu tử chi tang thân dã, văn nhạc bất lạc 孝子之喪  親也聞樂不樂  (Hiếu Kinh 孝經) Con chịu tang cha mẹ, nghe âm nhạc không thấy vui thích.
  3. Lại một âm là nhạo. Yêu thích. Luận Ngữ 論語  : Trí giả nhạo thủy 知者樂水  (Ung Dã 雍也) Kẻ trí thích nước.

 giai
  1. Đều, cùng, lời nói tóm cả mọi cái mọi sự.
  2. Khắp.

 do
  1. Bởi, tự.
  2. Noi theo.
  3. Nguyên do, nguyên nhân của một sự gì gọi là do. Như tình do 情由, lý do 理由, v.v. Nộp thuế có giấy biên lai gọi là do đơn 由單. Trích lấy các phần đại khái ở trong văn thư gọi là trích do 摘由.


 trung
  1. Thực, dốc lòng, hết bổn phận mình là trung 忠.

 hiếu
  1. Thảo, con thờ cha mẹ hết lòng gọi là hiếu.
  2. Tục gọi đồ tang phục là hiếu. Như xuyên hiếu 穿孝  mặc đồ tang, thoát hiếu 脫孝  trút đồ tang (đoạn tang), v.v.

 vĩnh
  1. Lâu, dài, mãi mãi. Như vĩnh viễn 永遠  mãi mãi, vĩnh phúc 永福  điều may mắn được hưởng lâu dài.

 cơ
  1. Nền nhà, ở dưới cho vật gì đứng vững được đều gọi là . Như căn cơ 根基  rễ cây và nền nhà, chỉ cái chính yếu để nương tựa, cơ chỉ 基址  nền móng.
  2. Cội gốc.
  3. Trước.
  4. Mưu.
  5. Gây dựng.
  6. Đồ làm ruộng, các thứ cầy bừa.

 viên
  1. Vườn, chỗ đất để trồng hoa quả, rau dưa. Nguyễn Trãi 阮廌  : Mộng hồi nghi thị cố viên xuân 夢回疑是故園春  (Đề sơn điểu hô nhân đồ 題山鳥呼人圖) Chiêm bao tưởng như về lại nơi vườn cũ mùa xuân.
  2. Chỗ để chơi riêng.
  3. Lăng tẩm các vua đời xưa và mồ mả các phi tần cũng đều gọi là viên cả.




TÔI BÈN GOM CHỮ LẠI
VIẾT RÕ ĐỐI ĐÔI CÂU
THÊM MỘT NHÁNH SEN HỒNG
CỔ ĐƯỜNG NGAN NGÁT THƠM



TTM tạm biên dịch ngữ nghĩa và luận bàn như sau: 

Tôi chưa biết xuất xứ hai câu đối trên ở vào thời đại nào, nhưng đọc lên cho thấy hai câu đối trên kết hợp triết lý nhân sinh giữa Nho giáo và Phật giáo. Hai câu đối đó ông bà ta treo lên để dạy cho con cái rằng:

  • Muốn có cuộc sống sung túc 富, có sức khỏe tốt 壽 sống lâu thì làm người 仁 phải biết sống theo đạo lý làm người, gieo những nhân lành, tạo thành những cái nghiệp tốt để cho ra quả lành. Chữ sự nghiệp ở đây không chỉ công danh sự nghiệp mà chỉ về kết quả của cái nghiệp, cái sự việc mà con người gieo trong cuộc sống.

  • Khi ra xã hội, khi ở trong gia đình, con người ta phải biết giữ sự trung hiếu, nếu luận chữ TRUNG ở vào thời đại này, thì ta có thể nói, khi ra xã hội làm việc, ta phải tận tâm làm việc cho hết trách nhiệm của mình, phải cho ra những kết quả tốt để xứng đáng hưởng cái đồng lương của mình, chứ không thể nhếch nhác cà phê chuyện vãn trong giờ làm việc.. gây thiệt hại cho tài nguyên của đất nước.. (dĩ nhiên ngược lại ta cũng có đồng lương xứng đáng), sống ở nhà thì phải hiếu đạo với cha mẹ, quí trọng nghĩa tào khang, anh em như thủ túc, con cái là hạnh lành.. có như thế thì ta mới an tâm lo sự nghiệp mà tạo ra sự TÀI SẢN, mới SANG TRỌNG VINH HIỂN đạt được sự QUÍ trọng trong xã hội, có như thế thì gia viên, gia đạo mới có sự cơ bản mà lâu dài bền vững.

TÓM LẠI :

富壽 康寧 總是 仁慈 成 事業
貴財 利樂 皆由 忠孝 永 基園

Phú thọ khang ninh - tổng thị - nhân từ thành sự nghiệp

Quý tài lợi lạc - giai do - trung hiếu vĩnh cơ viên

Con người ta có cuộc sống giàu sang phú quí, trường thọ, sức khỏe tốt có cuộc sống yên ổn an lành, tất cả điều từ chữ NHÂN TỪ mà tạo thành sự nghiệp và nghiệp duyên của mình.

Phú quí vinh hoa, tài sản lợi lạc có được đều do con người ta khi sống biết giữ gìn chữ TRUNG chữ HIẾU cho mình cho gia đạo, từ đó gia viên mãi mãi được vững bền.


Trên đây chỉ là thiển ý của bà già này, người chữ nghĩa thì ít nhưng lại hay suy nghĩ luận bàn, cho nên các bậc cao nhân thấy nơi nào còn thiếu xót thì xin gửi cao kiến góp bàn! Để chúng ta cùng góp vào trang ghi chép lịch sử cổ vật ở Tinh An Viên của bạn Minh An của chúng ta ngày một phong phú nha!

Cám ơn Minh An đã cho các bạn một ngày vui ở Tịnh An Viên.

TTM
PP. 13/04/2015

PS.
Xem thêm bài viết của Trần Đức Anh Sơn : Nhà Huế trên đất Thủ

.

2 comments:

  1. Một câu đối hay. Thể hiện quan niệm và triết lí về cuộc sống. Nhân từ, Trung Hiếu là nguồn gốc của cuộc sống giàu sang, khỏe mạnh, an lành, trường thọ, vẻ vang...
    Cám ơn chị Mai giới thiệu câu đối giàu ý nghĩa!

    ReplyDelete
    Replies
    1. M tạm biên dịch như thế, có gì thiếu xót xin bỏ quá cho. Chỉ là giúp cho bạn Minh An ghi lại thư mục những vật cổ ở Tịnh An Viên nữa đó anh Vũ Nho ơi!

      Delete

Những entries gần đây



2015-06-17 - 88,616 views
There was an error in this gadget

Song Ngư..

“Hòa vào dòng chảy, và luôn mong muốn bản thân thay đổi khác hơn ngày hôm qua.”






.. Và mây vẫn trôi giữa dòng đời bụi bặm... Người đi qua đời.. chợt.. cũ đến chẳng còn quen....

Thiên di



- Bớt ăn thịt, ăn nhiều rau
- Bớt ăn mặn, ăn nhiều chất chua
- Bớt ăn đường, ăn nhiều hoa quả
- Bớt ăn chất bột, ăn nhiều sữa

- Bớt mặc nhiều quần áo, tắm nhiều lần
- Bớt đi xe, năng đi bộ
- Bớt phiền muộn, ngủ nhiều hơn
- Bớt nóng giận, cười nhiều hơn

- Bớt nói, làm nhiều hơn
- Bớt ham muốn, chia sẻ nhiều hơn.




Dấu chân..

Flag Counter
15/02/2016 - 64,319 pageviews - 63 Flags colledted

Bạn đã ghé thăm đó ư!

Bạn từ đâu đến bạn ơi!
Đến thì nhớ nhé đôi lời thăm nhau..

Mutiply 27/02/2013: 315,715 pageviews; 118 flags collected
free counters



Người xin lỗi trước là người dũng cảm nhất.
Người tha thứ trước là người mạnh mẽ nhất.
Và người lãng quên trước sẽ là người hạnh phúc nhất...




Luôn nhớ!